Bảy mươi sáu cách biến đổi mô hình Su-Field, xếp trong 5 lớp và 18 nhóm. Loại mô hình bạn vẽ chỉ thẳng tới lớp cần mở, nên không phải đọc hết 76 chuẩn.
Đối tượng khó thay đổi như mong muốn và mô hình còn thiếu thành phần: bổ sung chất công cụ S2 và/hoặc trường F còn thiếu để có tương tác điều khiển được.
Su-Field khó điều khiển và được phép thêm chất: đưa phụ gia vào bên trong S1 hoặc S2, tạm thời hay lâu dài, để tạo tính chất cần.
Không được đưa phụ gia vào bên trong chất: gắn phụ gia từ bên ngoài lên S1 hoặc S2.
Không được thêm phụ gia vào chất: dùng chính môi trường xung quanh làm chất thứ hai hoặc làm phụ gia.
Môi trường chưa có chất cần: thay đổi môi trường bằng phụ gia, hoặc phân hủy, đổi pha một phần môi trường để tạo ra chất đó.
Cần một tác động nhỏ, chính xác mà khó đạt trực tiếp: cho tác động dư rồi loại bỏ phần dư.
Cần tác động mạnh mà đối tượng không chịu được: truyền tác động tối đa vào một chất khác gắn với đối tượng.
Chỗ này cần tác động mạnh, chỗ kia cần yếu: dùng trường mạnh và che chắn những chỗ cần yếu, hoặc trường yếu và thêm chất hoạt tính ở chỗ cần mạnh.
Giữa S1 và S2 có cả tác động có ích lẫn có hại, và hai chất không bắt buộc tiếp xúc trực tiếp: chen một chất thứ ba, rẻ và sẵn có, vào giữa.
Như 1.2.1 nhưng không được đưa chất lạ vào: chất chen giữa là một biến thể của chính S1 hoặc S2.
Một trường gây hại cho đối tượng: đưa vào một chất khác để hút lấy tác động có hại đó.
S1 và S2 buộc phải tiếp xúc trực tiếp: dùng một trường thứ hai để trung hòa tác động có hại, hoặc biến nó thành tác động có ích.
Cần cắt một tác động từ: làm chất mất từ tính (ví dụ nung quá điểm Curie) hoặc dùng từ trường ngược chiều.
Mở lớp này khi mô hình Su-Field là: Mô hình không hiệu quả. Xem cách phân loại
Tăng hiệu quả bằng cách biến một thành phần thành một Su-Field điều khiển độc lập, nối các Su-Field thành chuỗi.
Su-Field khó điều khiển mà không được thay thành phần: thêm một trường thứ hai dễ điều khiển tác động lên chất.
Thay trường khó điều khiển (trọng lực, cơ học) bằng trường dễ điều khiển hơn, thường theo hướng cơ → nhiệt → điện → từ.
Tăng mức phân tán của chất công cụ S2: từ khối liền sang hạt, bột, chất lỏng, khí.
Thay chất liền khối bằng chất xốp, có mao dẫn; lỗ xốp có thể chứa chất lỏng hoặc chịu tác động của trường.
Làm hệ linh động hơn: cấu trúc mềm dẻo, thay đổi được theo điều kiện làm việc.
Thay trường đồng nhất hoặc hỗn loạn bằng trường có cấu trúc trong không gian hoặc thời gian.
Thay chất đồng nhất hoặc hỗn loạn bằng chất có cấu trúc định trước.
Cho tần số tác động của trường khớp (hoặc cố ý lệch) với tần số riêng của sản phẩm hoặc công cụ.
Trong Su-Field phức, cho nhịp của các trường dùng chung khớp nhau hoặc bù trừ nhau.
Hai tác động không làm cùng lúc được: xen một tác động vào quãng nghỉ của tác động kia.
Thêm chất sắt từ dạng khối và từ trường vào hệ để dễ điều khiển hơn.
Thay một chất bằng hạt sắt từ (bột, hạt, phoi) và điều khiển bằng từ trường.
Dùng hạt sắt từ lơ lửng trong chất lỏng như dạng giới hạn của Fe-Field.
Kết hợp chất xốp, mao dẫn với chất sắt từ hoặc chất lỏng từ chứa trong lỗ.
Không được thay chất bằng hạt sắt từ: đưa phụ gia sắt từ vào trong hoặc gắn bên ngoài chất.
Không được đưa hạt sắt từ vào chất: đưa chúng vào môi trường và điều khiển môi trường bằng từ trường.
Tăng khả năng điều khiển của Fe-Field bằng các hiệu ứng từ như điểm Curie, từ giảo, hiệu ứng Hopkinson, Barkhausen.
Làm cấu trúc Fe-Field linh động, thay đổi được.
Chuyển từ hạt sắt từ phân bố đều sang phân bố có cấu trúc định trước.
Cho nhịp của từ trường khớp với tần số riêng của hệ.
Không dùng được chất sắt từ: dùng tương tác giữa các dòng điện, hoặc giữa dòng điện và từ trường, thay thế.
Không dùng được chất lỏng từ: dùng chất lỏng đổi độ nhớt theo điện trường.
Mở lớp này khi mô hình Su-Field là: Mô hình không hiệu quả. Xem cách phân loại
Ghép hệ hoặc thành phần với một hay nhiều hệ khác thành hệ đôi, hệ đa để tăng hiệu quả.
Làm liên kết giữa các phần tử chặt hơn hoặc linh hoạt hơn tùy yêu cầu.
Đi từ các phần tử giống nhau sang phần tử lệch tính chất, rồi đến phần tử có tính chất đối lập.
Rút gọn hệ: bỏ phần tử phụ trợ, gộp lại thành một hệ đơn mới ở bậc cao hơn.
Phân bố tính chất không tương thích: toàn hệ có tính chất A, còn các phần có tính chất không-A.
Chuyển chức năng từ cấp vĩ mô xuống cấp vi mô: phân tử, nguyên tử, ion, trường.
Mở lớp này khi mô hình Su-Field là: Bài toán đo, phát hiện. Xem cách phân loại
Thay đổi hệ sao cho không còn cần phát hiện hay đo nữa.
Đo trên bản sao, hình ảnh hoặc mô hình của đối tượng thay cho đo trực tiếp.
Không tránh được việc đo và không dùng bản sao được: thay phép đo bằng hai lần phát hiện thay đổi liên tiếp.
Hệ chưa phải Su-Field: dựng Su-Field đơn hoặc kép có trường đầu ra mang thông tin cần đo.
Đưa vào đối tượng một phụ gia dễ phát hiện, sinh ra trường dễ đo.
Không được thêm gì vào đối tượng: đưa phụ gia vào môi trường và theo dõi sự thay đổi của môi trường.
Không được đưa phụ gia vào môi trường: tạo phụ gia ngay trong môi trường, ví dụ bằng phân hủy hoặc đổi pha.
Dùng một hiệu ứng vật lý mà đại lượng cần đo làm thay đổi một cách dễ ghi nhận.
Kích thích dao động cộng hưởng của đối tượng; sự thay đổi tần số cho biết đại lượng cần đo.
Không tạo cộng hưởng ở đối tượng được: đo qua cộng hưởng của vật hoặc môi trường gắn với nó.
Thêm chất sắt từ dạng khối vào hệ và đo từ trường của nó.
Thay một chất bằng hạt sắt từ; đo bằng cách ghi nhận từ trường.
Không thay chất được: đưa phụ gia sắt từ vào trong hoặc gắn bên ngoài chất để đo.
Không đưa hạt sắt từ vào hệ được: đưa chúng vào môi trường để đo.
Tăng độ nhạy của hệ đo Fe-Field bằng hiệu ứng từ như điểm Curie, hiệu ứng Hopkinson, Barkhausen.
Ghép nhiều hệ đo thành hệ đôi, hệ đa để đo chính xác hơn.
Chuyển từ đo trực tiếp một đại lượng sang đo tốc độ thay đổi của nó theo thời gian hoặc không gian.
Cần đưa chất mà không được phép: dùng một trong các đường vòng, như khoảng trống thay chất, trường thay chất, phụ gia ngoài thay phụ gia trong, liều rất nhỏ, đưa vào tạm thời.
Thiếu chất để dựng Su-Field: chia chính sản phẩm thành các phần tác động lên nhau.
Chất đưa vào, sau khi làm xong việc, tự biến mất hoặc trở nên giống chất sẵn có trong hệ.
Cần nhiều chất mà không được thêm nhiều: dùng khoảng trống ở dạng kết cấu bơm hơi hoặc bọt.
Cho trường sẵn có trong hệ làm thêm một chức năng, hoặc dùng nó để sinh ra trường cần.
Dùng trường sẵn có ở môi trường xung quanh.
Dùng chất có sẵn trong hệ hoặc môi trường làm nguồn sinh ra trường.
Tăng hiệu quả dùng chất mà không thêm chất mới, bằng cách đổi pha: rắn, lỏng, khí, plasma.
Cho chất chuyển qua lại giữa hai pha tùy điều kiện làm việc.
Khai thác hiện tượng xảy ra khi chuyển pha, như hấp thụ hoặc tỏa nhiệt, thay đổi thể tích.
Thay chất một pha bằng chất tồn tại ở hai pha cùng lúc.
Tăng hiệu quả bằng tương tác lý – hóa giữa các phần, các pha của hệ.
Đối tượng phải luân phiên giữa các trạng thái: để nó tự chuyển nhờ một biến đổi vật lý thuận nghịch.
Cần tác động mạnh ở đầu ra từ tác động yếu ở đầu vào: đưa chất tới gần ngưỡng chuyển trạng thái để tác động nhỏ kích hoạt được.
Cần hạt chất (ion, nguyên tử…) mà không có sẵn: lấy bằng cách phân rã chất ở cấp cấu trúc cao hơn.
Lấy hạt chất bằng cách kết hợp các hạt ở cấp cấu trúc thấp hơn.
Khi dùng 5.5.1 hoặc 5.5.2, chọn cấp cấu trúc gần nhất: phân rã từ cấp ngay trên, kết hợp từ cấp ngay dưới.